Silkworm Extracts

 

con-tam-cover-1

“À đúng rồi,” bà ta tiếp, “từ hồi ổng bỏ đi có mấy chuyện kỳ lắm.”

“Kỳ là sao?”

“Cứt,” Leonora nói, tỉnh như ruồi, “quăng vô thùng thư nhà tôi.”

“Có người bỏ chất thải vào thùng thư nhà chị?” Strike nói.

“Ờ.”

“Từ lúc chồng chị mất tích?”

“Ờ. Chó đó,” Leonora nói, phải mất một giây Strike mới luận ra là hai tiếng đó bổ nghĩa cho chất thải, chứ không phải ông chồng. “Cũng phải ba bốn lần rồi đó, mà toàn đêm hôm. Mở mắt ra là thấy, hỏi có sướng không. Rồi còn có cái cô này tới tận nhà tôi, kỳ lắm.”

        [  ‘Oh yeah,’ she said, ‘there’s funny stuff happening since he left.”

            ‘What kind of funny stuff?’

            ‘Shit,’ said Leonora Quine matter of factly, ‘through our letter box.

            ‘Someone’s put excrement through your letter box?’ Strike said.

            ‘Yeah.’

            ‘Since your husband disappeared?’

            ‘Yeah. Dog,’ said Leonora, and it was a split second before Strike deduced that this applied to the excrement, not her husband. ‘Three or four times now, at night. Nice thing to find in the morning, I don’t think. And there was a woman come to the door and all, who was weird.’]

Chín giờ kém mười sáng hôm sau Strike có mặt ở Exmouth Market. Màn sương băng giá vẫn còn bám trên các tòa nhà trên phố. Khu này chẳng giống với những khu phố London khác. Quán xá kê bàn ghế ra cả vỉa hè, mặt tiền nhà cửa sơn tông màu phấn. Trong phố có Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, kiểu vương cung thánh đường với những chi tiết mạ vàng, sơn xanh, rồi gạch đỏ, nằm giữa lãng đãng sương khói. Màn sương buốt lạnh, những cửa hiệu bán đồ cổ, bàn ghế lề đường: dường như chỉ cần thêm vị nước biển mằn mặn và….

[Wads of icy mist were still clinging to the buildings of Exmouth Market when Strike turned into it at ten to nine the following morning. It did not feel like a London street, not with pavement seating outside its many cafes, pastel-painted façade and a basilica-like church, gold, blue and brick: Church of Our Most Holy Redeemer, wreathed in smoky vapour. Chilly fog, shops full of curios, kerb-side tables and chairs if he could have added the tang of salt water and…]

“…Lão ta bị đuổi học giữa chừng, hình như học ở Loughborough hay trường vớ vẩn nào đó, còn không kiếm nổi tấm bằng. Rồi Michael từng nói với Owen rằng hồi sinh viên tôi chỉ viết được những thứ “nhài nhại đáng thương”, Owen nghe xong thì…

[‘…thrown off his course at Loughborough or such place, and never got a degree at all. Yes, and Michael once kindly told Owen that I’d been “lamentably derivative” as a writer back when we were students, and Owen …]

Văn phòng ngột ngạt của Elizabeth Tassel cũng có cái không khí như phòng ngoài, nhưng đậm đặc hơn: nồng nặc mùi thuốc lá và mùi chó già. Một cái ổ chó bằng vải tweed đặt dưới bàn làm việc, khắp tường treo ảnh cũ và tranh in. Strike nhận ra người trong tấm ảnh lớn: Pinkelman, nhà văn lớn tuổi chuyên viết sách thiếu nhi, cũng khá nổi tiếng. Hắn không chắc ông này còn sống không. Bà đại diện nhà văn không nói năng gì, chỉ đưa tay ra hiệu cho Strike ngồi xuống ghế đối diện. Để có chỗ ngồi hắn phải dời đi một mớ giấy tờ và tạp chí Bookseller. Liz Tassel rút một điếu thuốc từ hộp thuốc trên bàn, châm thuốc bằng bật lửa đá onyx, rít một hơi thật sâu rồi…

[Elizabeth Tassel’s stuffy office was a kind of concentration of the outer room: it stank of cigarettes and old dog. A tweed bed for the animal sat under her desk; the walls were plastered with old photographs and prints. Strike recognised one of the largest: a reasonably well-know and elderly writer of illustrated children’s books called Pinkelman, whom he was not sure was still alive. After indicating wordlessly that Strike should take the seat opposite her, from which he had first to remove a stack of papers and old copies of Bookseller, the agent took a cigarette from a box on the desk, lit it with an onyx lighter, inhaled deeply and then …..] 

“…Anh có biết,” bà đại diện tác giả gay gắt nói, “có bao nhiêu người nghĩ là mình viết được không? Anh không tưởng tượng nổi mớ rác rưởi tôi nhận được, ngày qua ngày. Bình thường thì tiểu thuyết của Elspeth đáng ra đã bị từ chối thẳng tay. Viết đúng kiểu làm bộ làm tịch, ngớ ngẩn quá thể, nhưng đó là nói chuyện bình thường. Sau khi khuyến khích bà ấy viết ra cái của nợ đó, Michael đã không có gan chê văn vợ…”

[‘…Have you any idea,’ said the agent harshly, ‘how many people think they can write? You cannot imagine the crap I am sent, day in, day out. Elspeth’s novel would have been rejected out of hand under normal circumstances, it was so pretentious and silly, but they weren’t normal circumstances. Having encouraged her to produce the damn thing, Michael didn’t have the balls to tell her it was awful….’]

Lên đến sân thượng, gió đêm lạnh buốt xộc vào như muốn gột rửa buồng phổi. Sân thượng đầy những dải cỏ mịn, chậu hoa nhỏ, cây con rồi cả băng ghế lác đác. Còn có hồ cá lắp đèn pha, cá trong hồ lượn thoăn thoắt như ánh lửa chớp ngay dưới những tán lá hoa súng màu đen. Máy sưởi ngoài trời tựa những cây nấm thép khổng lồ đặt thành từng khóm giữa những bãi cỏ ngay ngắn. Người hút thuốc đứng quanh máy sưởi, quay lưng với cảnh trí êm đềm giả tạo, quay mặt vào…

[The icy night air scoured his lungs as they emerged on to the top of the building. Stretches of velvety lawn, tubs of flowers and young trees, benches dotted everywhere; there was even a floodlit pond where fish darted, flame-like, beneath the black lily pads. Outdoor heaters like giant steel mushrooms had been placed in groups between neat square lawns and people were huddled under them, their backs turned to the synthetic pastoral scene, looking inwards at…]

“…Ở lão có gì đó đáng thương, một chút yếu đuối sao đó, khiến cho lão có giở trò gì thì người ta cũng muốn che chở. Jerry Waldegrave cảm thấy điều đó. Phụ nữ cảm thấy điều đó. Tôi cũng vậy. Sự thật là tôi cứ hi vọng, thậm chí là cứ tin rằng, một ngày nào đó lão sẽ viết một cuốn Tội lỗi của Hobart nữa. Trong mỗi cuốn sách vớ vẩn ấm ớ mà lão viết đều có chút gì đó khiến ta không thể gạt bay lão được.”

[…‘There was a pathos, a funny fragility about him, however badly he behaved, that made people feel protective. Jerry Waldegrave felt it. Women felt it. I felt it. And the truth is that I kept on hoping, even believing, that one day he’d produce another Hobart’s Sin. There was always something, in every bloody awful book he’s written, something that meant you couldn’t completely write him off.’]

Kinh nghiệm tình trường đã dạy Strike rằng hắn luôn hấp dẫn một kiểu phụ nữ nhất định. Các cô đó thường khá thông minh, nhưng tính khí bốc đồng, y hệt như thứ ánh sáng chói mắt mà chớp nháy liên tục của bóng đèn bị chập mạch. Họ rất quyến rũ, nhưng lại là thể loại “tốt mã rã đám” theo như lời Dave Polworth bạn nối khố của Strike. Tay thám tử chưa bao giờ chịu khó nghĩ xem họ thấy gì hay ho ở hắn, mặc dù chuyên gia triết lý vặt Polworth từng phát biểu rằng các cô như thế (“thất thường, gia giáo”) trong tiềm thức sẽ luôn đi tìm thể loại “dòng giống trâu ngựa” như hắn.

[Experience had taught Strike that there was a certain type of woman to whom he was unusally attractive. Their common characteristics were intelligence and the flickering intensity of badly wired lamps. They were often attractive and usually, as his very oldest friend Dave Polworth liked to put it, ‘total fucking flakes.” Precisely what it was about him that attracted to the type, Strike had never taken the time to consider, although Polworth, a man of many pithy theories, took the view that such women (‘nervy, overbred’) were subconsciously looking for what he called ‘carthorse blood’]

  “Chúng ta không yêu nhau, chúng ta chỉ yêu cái ý niệm về nhau thôi. Hầu như chẳng ai hiểu được điều đó, hay đủ sức nghiền ngẫm nó. Con người có niềm tin mù quáng vào sức mạnh bịa đặt của chính mình. Mọi thứ tình ái trên đời, suy cho cùng, cũng chỉ là ái kỷ.”

     [ ‘We don’t love each other; we love the idea we have of each other. Very few humans understand this or can bear to contemplate it. They have blind faith in their own powers of creation. All love, ultimately, is self love.’] 

Tuyết đã rơi trở lại, dữ dội như một màn trả thù. Tuyết rơi nhanh, đọng lại trên mái nhà, trên vỉa hè, như thể chưa từng có mấy ngày vắng tuyết vừa qua giữa một mùa đông buốt giá. Suốt cả ngày thứ Năm bão tuyết cứ dày thêm. Giờ đây, qua màn tuyết bay lạnh giá trong ánh đèn đường, câu lạc bộ xưa cũ với nước sơn màu phấn mới nguyên hiện ra hư ảo lạ kỳ, như tranh giấy bồi, như hình nổi đánh lừa thị giác.

[…the snow that had returned with vengeance, falling fast and mounting over roofs and pavements as though the brief respite in the artic winter had never been. All through Thursday the blizzard had grown thicker and now, viewed through a rippling lamp-lit curtain of icy flakes, the old club in its fresh pastel colours appears strangely insubstantial, pasteboard scenery, a trompe l’oeil marquee.]

…Ông ta đeo túi da bóng lộn vắt chéo qua người, túi đủ lớn để đựng một chiếc áo sơ mi sạch và bàn chải đánh răng. Gần đây Strike thường xuyên gặp kiểu túi này, cứ nhìn thấy là hắn lại nghĩ ngay Túi-qua-đêm-của-dân-ngoại-tình. Đôi uyên ương tận hưởng một nụ hôn kiểu Pháp trên bậc cửa, bị cắt ngang bởi cái lạnh như băng và…

[…A sleek leather messenger bag was slung diagonally across his chest, large enough for a clean shirt and a toothbrush. Strike had seen these so frequently that he had come to think of them as Adulterer’s Overnight Bags. The couple enjoyed a French kiss on the doorstep curtailed by the icy cold and…]

Nổi bật trong căn phòng ít đồ đạc đó là bức tượng thiên thần bằng đá cẩm thạch trắng cỡ người thật.Thiên thần đậu cheo leo trên một hòn đá, một bên cơ thể bị mổ ra, cho thấy nửa hộp sọ, một phần ruột và một lát xương ở chân. Bầu vú của thiên thần, Robin nhìn vào mà không rời mắt nổi, cũng bị phanh ra, cho thấy một khối mô đầy những hạt mỡ li ti đặt trên một vòng cơ trông như lớp lá tia ở mũ nấm.

[The dominant feature of the under-furnished room was a life-size white marble sculpture of an angel, perched on a rock and partially dissected to expose half of her skull, a portion of her guts and a slice of the bone in her leg. Her breast, Robin saw, unable to tear her eyes away, was revealed as a mound of fat globules sitting on a circle of muscle that resembled the gills of a mushroom.]

 Leander vẫy vùng, quanh chàng sóng cuộn,

Sóng kéo chàng về tận đáy bể, nơi chàng thấy

Ngọc ngà rơi rắc tựa mưa tuông….    

                       [Leander strived; the waves about him wound,

                        And pulled him to the bottom, where the ground

                        Was strewed with pearl…]

(Christopher Marlowe, Hero and Leander)

Bảy chiếc đĩa ăn và bảy bộ dao nĩa được bày chung quanh cái xác thối, cứ như thể đó là một tảng thịt khổng lồ vừa được dọn lên bàn. Phần thân mình bị rạch một đường từ cổ họng đến khung xương chậu. Chỉ đứng ở bậc cửa Strike cũng kịp nhìn ra khoang bụng đen ngòm, trống hoắc. Bộ ruột đã bị lấy đi, cứ như thể đã vừa được ăn hết. Vải áo và thịt da bị cháy xém ở nhiều hơn, càng gây ấn tượng mạnh rằng xác đã bị nướng chín và dọn ra đánh chén thỏa thuê. Đôi chỗ trên xác vừa bị cháy vừa đang phân hủy trông lóng lánh, như đang…

[Seven plates and seven sets of cutlery had been set around the decomposing body as though it were a gigantic joint of meat. The torso had been slit from throat to pelvis and Strike was tall enough to see, even from the threshold, the gaping black cavity that had been left behind. The intestines were gone, as though they had been eaten. Fabric and flesh had been burned away all over the corpse, heightening the vile impression that it had been cooked and feasted upon. In places the burned, decomposing cadaver was shining, almost …]