Mountains Extracts

mien-non-cao-xu-bo-dao

Con vượn leo lên bệ bếp và ngồi cạnh bếp lò, không sợ lửa nóng. Nước pha cà phê không khiến nó quan tâm. Nó chỉ tập trung chú ý vào nồi cháo. Khi cháo sôi, Peter vặn lửa nhỏ xuống rồi khuấy bằng muỗng gỗ. Miệng con vượn gồng lên. Nó đưa tay giật lấy cái muỗng. Nó bắt đầu khuấy từ từ, không làm đổ cháo hay lật nồi. Cái muỗng chạy vòng vòng, cháo quánh lại, nhuyễn dần. Odo nhìn ông. “Giỏi lắm,” Peter thì thầm, gật đầu. Yến mạch ông mua loại cán thô và còn sống. Ông và Odo dành mười lăm phút tiếp theo nhìn cháo sệt lại, mê mẩn trước chuyển biến hóa học của món ăn. À đúng ra là mười sáu phút tiếp theo kia. Vốn không mê nấu nướng, không hay bày vẽ, Peter làm theo chỉ dẫn từng chút một, canh giờ đúng y. Khi ông đổ hạt óc chó đã thái vụn và nho khô vào, Odo nhìn say sưa như học trò đang lóe mắt nhìn pháp sư tiết lộ bí kíp thần dược. Odo vẫn cứ khuấy, kiên nhẫn và không so đo. Chỉ khi Peter vặn nhỏ lửa rồi đậy nắp nồi để cháo nguội thì con vượn mới tỏ ra sốt ruột. Quy luật nhiệt động với nó chỉ là thứ rách việc.

[The ape climbs onto the kitchen counter and sits right next to the stove, unafraid of the flame. The water for the coffee arouses no interest. The focus of his attention is the pot of porridge. When it starts to boil, Peter turns the heat down and stirs the mixture with a wooden spoon. The ape’s mouth tenses. He reaches and takes hold of the spoon. He begins to stir carefully, without spilling the porridge or tipping the pot. Round and round goes the spoon, the ingredients swirling and tumbling. Odo looks up at him. “You’re doing well,” Peter whispers, nodding. The oat flakes are large and uncooked. He and Odo spend the next fifteen minutes watching the porridge thicken, riveted by the workings of food chemistry. Actually, the next sixteen minutes. Being a plodding, uninspired cook, Peter follows instructions precisely and he times it. When he puts in chopped walnuts and raisins, Odo stares like an apprentice awed to see the wizard reveal the ingredients that go into the magic potion. Odo’s stirring continues, patient and unstinting. Only when Peter turns the burner off and covers the pot with its lid to allow the porridge to cool does the ape show signs of impatience. The laws of thermodynamics are a nuisance to him]

***

“…Trời đổ mưa. Peter tìm được một cây thông lớn, đứng trú bên dưới. Cây thông không che chắn hết được, nhưng ông không ngại, vì ông có mang theo áo mưa. Ông mặc áo, ngồi lên lớp lá kim, tựa lưng vào thân cây. Ông đợi Odo đến. Khi ông thấy con vượn chạy ù trên lối đi, ông gọi ra. Odo dừng lại rồi trố mắt nhìn ông. Con vượn chưa từng thấy áo mưa, không hiểu được thân mình ông đi đâu mất rồi. “Đây, tới đây đi,” ông nói. Odo ngồi xổm gần đó. Mặc dù con vượn không ngại trời mưa, Peter lấy trong ba lô ra một áo mưa nữa. Khi làm vậy, ông nhấc cái mình đang mặc lên. Odo nhe răng cười. À, hóa ra thân mình ông còn đó kìa! Nó lỏn lẻn tới cạnh ông. Peter tròng áo mưa qua đầu con vượn. Họ bây giờ là hai cái mặt rời thò ra. Trên đầu họ tán cây vươn lên theo hình chóp, như cái lều, không gian bị chia cắt và bẻ vụn bởi những cành cây. Mùi thông thật nồng. Họ ngồi và ngắm mưa rơi cùng những hệ lụy theo đó: những giọt nước căng mọng ở cuối mỗi lá kim trước khi rơi xuống, như thể có chủ đích; nước đọng thành vũng, thành những dòng sông nhỏ nối nhau; mọi âm thanh chìm xuống trừ tiếng mưa lộp độp; một thế giới mờ, ẩm, hai màu xanh và nâu hiện ra. Họ ngạc nhiên khi thấy con lợn rừng đơn độc đi qua. Nhưng phần lớn thời gian họ chỉ lắng nghe sự im lặng sống động, thiêm thiếp của khu rừng…”

[It starts to rain. Peter finds a large pine tree and takes refuge under it. Its protection is imperfect, but he doesn’t mind, as he has brought a waterproof poncho. He puts it on and sits on the layer of pine needles, his back against the trunk of the tree. He waits for Odo to catch up. When he sees the ape racing along the path, he calls out. Odo brakes and stares at him. The ape has never seen a poncho before, doesn’t understand where his body has gone. “Come, come,” he says. Odo settles on his haunches close-by. Though the ape doesn’t seem to mind the rain, Peter takes out a second poncho from his backpack. In doing so, he lifts his own. Odo grins. Oh, there’s the rest of you! He scoots next to him. Peter places the poncho over the ape’s head. They are now two disembodied faces looking out. Above them the tree rises in a cone shape, like a teepee, the space broken up and fractured by branches. The pine smell is strong. They sit and watch the falling rain and its many consequences: the drops of water that swell up at the end of pine needles before falling, as if thoughtfully; the forming of puddles, complete with connecting rivers; the dampening of all sound except the patter of the rain; the creation of a dim, damp world of green and brown. They are surprised when a solitary wild boar trots past. Mostly they just listen to the living, breathing silence of the forest.]

***

Con bướm đêm trong hồn Tomás xao động. Gã nhớ lại những giờ cuối cùng của Dora. Khi đã nằm liệt giường, hai bàn tay nàng cứ nắm lấy thánh giá, bất kể vật vã xoay trở ra sao, khóc lóc thế nào, nàng vẫn không buông nó ra. Cây thánh giá của nàng chỉ là thứ đồng thau rẻ tiền, loe lóe mờ nhạt, cỡ nhỏ vừa, loại thường hay treo tường. Nàng chết, ấp nó lên ngực trong căn phòng nhỏ, trơ trọi, chỉ có mặt Tomás ngồi trên ghế cạnh giường. Khi thời khắc cuối cùng đến, đánh dấu bằng hơi thở khô khốc bỗng dưng ngừng bặt (còn đứa con trai lại ra đi thật yên ắng, như cánh hoa rụng rơi), gã thấy mình tựa lớp băng trôi tuột trên dòng sông.

[The moth in Tomás’s soul stirred. He remembered Dora’s last hours. Once she was bedridden, she held on to a crucifix with both hands, and no matter how much she tossed and turned, no matter how much she cried out, she didn’t let go of it. It was a cheap brass effigy that glinted dully, smallish in size, the type that might hang on a wall. She died clasping it to her chest in her small, bare room, with only Tomás present, in a chair by her bed. When the final moment came, signaled to him by the dramatic stoppage of her loud, rasping breathing (whereas their son had departed so quietly, like the petals of a flower falling off), he felt like a sheet of ice being rushed along a river.]

***
Hôm nay một đứa nô hỏi ta – ra dấu hỏi ta – rằng có phải đôi giày da ta mang làm từ da của người Phi Châu chăng. Vì cũng có màu như thế. Thế anh ta có bị ăn thịt không? Xương có xay thành bột gì hữu dụng không? Vài người Phi Châu tin rằng người Âu Châu chúng ta là giống ăn thịt người. Ấy là vì chúng không tin ta chỉ dùng chúng vào mỗi một việc: làm đồng. Trong trải nghiệm của chúng, cái phần xác ở đời, tức là cơm áo gạo tiền, nào cần gắng sức đến thế. Làm vườn rau ở xứ nhiệt đới chẳng mất bao thời gian & cũng chẳng lụy nhiều công sức. Săn bắn thì có khó hơn, nhưng đấy là là việc bầy đàn & còn vui thích & người ta chẳng sá gì công sức. Thế thì tại sao người da trắng lại đem đi lắm dân đen nếu họ không có động cơ gì sâu xa hơn là làm vườn? Ta cam đoan với đứa nô rằng giày ta không phải làm từ da đồng loại của hắn. Ta không chắc hắn tin ta.

[Today a slave asked me —signified to me—if my leather shoes were made from the skin of an African. They are of the same colour. Was the man also eaten? Were his bones reduced to useful powder? Some of the Africans believe that we Europeans are cannibals. The notion is the result of their incredulity at the use they are put to: field labour. In their experience, the material part of one’s life, what we would call the earning of it, demands no great effort. Tending a vegetable garden in the tropics takes little time & occupies few hands. Hunting is more demanding, but is a group activity & source of some pleasure & the effort is not begrudged. Why then would the white man take so many of them if they didn’t have ulterior motives greater than gardening? I reassured the slave that my shoes were not made of his fellows’ skin. I cannot say I convinced him.]

***
Ngón đeo nhẫn trên tay trái có độn nhẹ một lớp lông tơ, ngón giữa tay phải cũng thế, còn trong ngón trỏ ở cả hai bàn tay ông thấy có máu, máu đỏ tươi – là vết máu duy nhất trong toàn cơ thể. Tất cả những ngón còn lại đầy bùn. Lòng bàn tay phải cầm một vỏ sò, lòng bàn tay trái cầm vài tờ lịch tường nhỏ. Hai cánh tay lỉnh kỉnh đủ món. Từ chúng ông lấy ra nào búa, kẹp, dao dài; quả táo; cục bùn; nhành lúa; ba quả trứng; con cá tuyết khô; dao nĩa. Đầu của Rafael còn rộng rãi hơn nữa. Bên trong đó ông tìm thấy một vuông vải đỏ, một con ngựa và xe kéo đồ chơi thủ công bằng gỗ, bánh xe quay được; một cái gương con; lại thêm lông tơ; một vật nhỏ bằng gỗ sơn son đến Maria Castro cũng không biết là gì; lọn tóc dài sẫm màu; và ba lá bài. Trong mỗi con mắt ông tìm thấy một viên xúc xắc, và một cánh hoa khô thay cho võng mạc. Cổ chứa ba cái chân gà và củi đóm: lá khô và cành cây. Lưỡi chứa tro, trừ đầu lưỡi, nơi có mật ong.

[The ring finger of the left hand is lightly packed with down feathers, as is the right hand’s middle finger, while in the index fingers of both hands he finds blood, fresh, red blood— the only trace of blood he finds anywhere in the body. All the other digits contain mud. The palm of the right hand holds an oyster shell, the palm of the left, pages from a small wall calendar. The arms are crowded. From them he extracts a hammer, a pair of tongs, a long knife; an apple; a clump of mud; a sheaf of wheat; three eggs; a salted cod; a knife and fork. Rafael Castro’s head proves roomier. Inside it he finds a square of red cloth; a small handmade wooden toy of a horse and cart with wheels that turn; a pocket mirror; more down feathers; a small wooden painted object, ochre in colour, that Maria Castro cannot identify; a candle; a long lock of dark hair; and three playing cards. In each eye he discovers a die, and a dried flower petal in place of the retina. The neck contains three chicken feet and what looks like kindling: dried leaves and twigs. The tongue holds ash except at its tip, where there is honey]

***

Tình yêu là một ngôi nhà với nhiều gian phòng, gian để nuôi nấng tình yêu, gian giải khuây cho nó, gian gột rửa, gian thay xiêm áo, gian để nó nghỉ ngơi, và mỗi gian đều có thể là nơi ta cười đùa hay lắng nghe hay thầm thì bí mật hay giận hờn hay xin lỗi hay gần gụi bên nhau và đương nhiên có cả những gian phòng cho các thành viên mới. Tình yêu là một ngôi nhà nơi có đường ống nước dẫn về những xúc cảm rộn ràng mỗi sớm mai, nơi có cống xả trôi mọi cãi vã, có cửa sổ rực sáng mời đón không khí trong lành của lòng thành ngày mới. Tình yêu là một ngôi nhà với nền móng không hề suy suyễn và mái che vững chắc tột cùng.

[Love is a house with many rooms, this room to feed the love, this one to entertain it, this one to clean it, this one to dress it, this one to allow it to rest, and each of these rooms can also just as well be the room for laughing or the room for listening or the room for telling one’s secrets or the room for sulking or the room for apologizing or the room for intimate togetherness, and, of course, there are the rooms for the new members of the household. Love is a house in which plumbing brings bubbly new emotions every morning, and sewers flush out disputes, and bright windows open up to admit the fresh air of renewed goodwill. Love is a house with an unshakable foundation and an indestructible roof.]

***

Peter ngậm ngùi buồn vui, khi ngắm lại cuộc đời mình. Ông chìm trong hoài niệm. Vài tấm hình gợi kỷ niệm khiến ông đau nhói, choáng ngợp. Một buổi tối, khi xem hình chụp Clara lúc còn trẻ đang ẵm em bé Ben trên tay, ông bắt đầu khóc. Ben nhỏ xíu, đỏ au, nhăn nheo. Clara trông mệt lả mà sung sướng tột cùng. Bàn tay tí hon đang nắm chặt lấy ngón tay út của bà. Odo nhìn ông, ngơ ngác nhưng lo lắng. Con vượn đặt cuốn an-bum xuống rồi ôm chầm lấy ông. Sau một hồi Peter rùng mình. Khóc lóc vậy để làm gì? Để làm gì kia chứ. Chẳng được gì cả. Nó chỉ khiến ông bớt đi sự sáng suốt. Ông mở cuốn an-bum ra lần nữa, nhìn thật lâu vào tấm hình Clara và Ben. Ông cố cưỡng lại nỗi buồn dễ dàng ập tới. Thay vào đó ông tập trung vào sự thật, lớn lao và giản đơn, của tình yêu ông dành cho hai người.

[It is a bittersweet activity for Peter, to revisit his life. It mires him in nostalgia. Some photos evoke stabs of memory that overwhelm him. One evening, at a shot of young Clara holding baby Ben, he begins to weep. Ben is tiny, red, wrinkled. Clara looks exhausted but ecstatic. The tiniest hand is holding on to her little finger. Odo looks at him, nonplused but concerned. The ape puts the album down and embraces him. After a moment Peter shakes himself. What is this weeping for? What purpose does it serve? None. It only gets in the way of clarity. He opens the album again and stares hard at the photo of Clara and Ben. He resists the easy appeal of sadness. Instead he focuses on the fact, huge and simple, of his love for them.]