Light Extracts

anh-den-cover

Lucy thương yêu của má,

            Thật lâu phải không con. Thật là lâu quá. Má đã hứa sẽ đi xa con, và má đã giữ lời, mặc dù vô cùng khó khăn.

            Giờ má đã đi rồi, nên con mới đọc lá thư này. Má thấy an ủi lắm vì con đã tới tìm ba má. Má chưa bao giờ hết hi vọng là một ngày con sẽ tới.

            Trong cái rương cùng với lá thư còn có mấy thứ đồ hồi con còn rất nhỏ: áo con mặc lúc rửa tội, cái chăn vàng, vài bức tranh con vẽ khi còn nhỏ. Rồi cả mấy thứ má làm cho con sau đó, mấy thứ đồ vải. Má giữ cho con – kỷ niệm phần đời đã mất. Để nếu mà con có muốn tìm lại.

            Giờ con đã lớn khôn. Má mong đời con gặp nhiều may mắn. Má hi vọng con có thể tha thứ cho má đã giữ con lại. Rồi để con đi.

            Nhớ rằng lúc nào má cũng thương con.

            Má thương yêu của con

 

[My Darling Lucy,

It has been a long time. Such a long time. I promised I’d stay away from you, and I’ve stuck to my word, however hard that was for me.

            I’m gone now, which is why you have this letter. And it brings me joy because       it means that you came to find us. I never gave up hope that you would.

In the chest with this letter are some of the earliest things of yours: your christening gown, your yellow blanket, some of the drawings you did as a tot. And there are things  I made for you over the years- linen and so forth. I kept them safe for you- things from that lost part of your life. In case you came in search of it.

You are a grown woman now. I hope life has been kind to you. I hope that you can forgive me for keeping you. And for letting you go.

            Know that you have always been beloved.

                                                With all my love.]

 

…Anh tê cứng cả người khi nhận ra một con bò cạp đang bám vào đầu cành cây. “Lạy Chúa, Lucy!” Anh chụp lấy người con bé dưới hai cánh tay, nhấc bổng nó lên cao rồi hất con bò cạp xuống đất, đạp chân nghiến nát. “Lucy con đang làm gì vậy hả?” anh hét lên.

“Ba! Ba giết nó rồi!”

“Lucy, con đó rất nguy hiểm! Nó có cắn con không?”
“Không cắn. Nó thích con mà. Ba nhìn nè,” con bé nói rồi mở túi phía trước áo, lấy ra thêm một con bò cạp nữa. “Lulu để dành cho ba một con nè.”….

[…He freezes as he recognises the shape clinging to the end of the twig as a scorpion. ‘Jesus, Lucy!’ He  grabs the little girl under her arms and lifts her high in the air as he dashes the scorpion to the ground and crushes it under his foot. ‘Lucy, what the hell are you doing?’ he cries.

            ‘Dadda! But you killed it!’

            ‘Lucy, that’s dangerous! Did it bite you?’

            ‘No. It likes me. And look,’ she says, opening the wide pocket at the front of her smock, proudly displaying another scorpion. ‘I got one for you.’…]

Mũi Partageuse được các nhà thám hiểm người Pháp đặt tên khi vẽ bản đồ vùng đất nhô ra từ góc phía tây nam của lục địa Australia, khá lâu trước khi người Anh đổ bộ chiếm thuộc địa năm 1826. Di dân dần dần kéo đến, phía bắc đi từ Albany, phía nam từ Swan River Colony, định cư trên những cánh rừng hoang sơ trong khoảng hàng trăm dặm giữa hai xứ đó. Người ta dùng cưa tay để đốn những cái cây cao như nhà thờ rồi san mặt đất thành đồng cỏ nuôi bò. Di dân nước da còn xanh tái cùng với những đàn ngựa thồ chặt cây mở đường, nhẫn nại lấn từng tấc đất khó nhọc. Mảnh đất trước đó còn chưa từng có dấu người, giờ đây bị cào xới, châm lửa đốt trụi, rồi đo đạc vẽ vời bởi bàn tay của những kẻ bỏ xứ, đi thử vận may ở một phương trời xa lạ, vừa sợ bỏ mạng vừa mơ đổi đời sung sướng.

[Point Partageuse got its name from the French explorer who mapped the cape that jutted from the south-western corner of the Australian continent well before the British dash to colonise the west began in 1926. Since then, settlers had trickled north from Albany and south from the Swan River Colony, laying claim to the virgin forests in the hundreds of miles between. Cathedral-high trees were felled with handsaws to create grazing pasture; scrawny roads were hewn inch by stubborn inch by pale-skinned fellows with team of shire horses, as this land, which had never before been scarred by man, was excoriated and burned, mapped and measured and meted out to those willing to try their luck in a hemisphere which might bring them desperation, death, or fortune beyond their dreams].

Vào cái ngày màu nhiệm đó, Isabel quỳ bên vách đá, tay sửa lại chiếc thánh giá nhỏ mới tạc từ gỗ dạt. Một đám mây mũm mĩm, đơn độc trôi chầm chậm trên bầu trời cuối tháng Tư. Bầu trời mênh mông, in bóng xuống mặt nước đại dương bên dưới.

[On the day of the miracle, Isabel was kneeling at the cliff’s edge, tending the small, newly made driftwood cross. A single fat cloud snailed across the late April sky, which stretched above the island in a mirror of the ocean below. ]

‘Vẫn còn nhiều ngày phía trước. Và anh biết rằng mỗi người trong cõi đi về cứ đổi thay theo từng ngày, theo từng mối nhân duyên trong đời. Những vết sẹo cũng chỉ là một thứ ký ức khác. Isabel là một phần của anh, dù cô có ở đâu nữa, cũng như cuộc chiến, và ánh đèn hải đăng, và cả đại dương. Rồi ngày tháng sẽ xóa nhòa cuộc đời họ, cỏ sẽ phủ xanh những ngôi mộ, đến khi câu chuyện của họ chỉ là một tấm bia không người thăm viếng.

Anh nhìn đại dương đang đầu hàng trước đêm tối, biết rằng rồi ngọn đèn sẽ lại hiện ra.

     [There are still more days to travel in this life. And he knows that the man who makes the journey has been shaped by every day and every person along the way. Scars are just another kind of memory. Isabel is part of him, wherever she is, just like the war and the light and the ocean. Soon enough the days will close over their lives, the grass will grow over their graves, until their story is just an unvisited headstone.

            He watches the ocean surrender to night, knowing that the light will reappear].

 Đứng bên phía này đảo chỉ thấy biển trời bao la trống trải, cho đến tận châu Phi. Nơi đây Ấn Độ Dương hoà vào Nam Đại Dương, tạo thành một tấm thảm nước vô tận ngay dưới mỏm đá. Hôm đó đất trời vô cùng tĩnh tại, làm Isabel tưởng chừng như từ đảo có thể đi bộ giữa hai tầng xanh biếc ra tận Madagascar.

[From this side of the island, there was only vastness, all the way to Africa. Here, the Indian Ocean washed into the Great Southern Ocean and together they stretched like and edgeless carpet below the cliffs. On days like this it seemed solid she had the impression she could walk to Madagascar in a journey of blue upon blue.]

 Trong kho bếp mấy lon thịt bò muối, đậu Hà Lan và quả lê ngâm nằm trên kệ, cạnh bên mấy hộp cá, đường và một hũ kẹo bạc hà cứng, nghe đâu bà Docherty quá cố rất thích thứ kẹo này. Bữa tối đầu tiên trên đảo anh cắt một khúc bánh mỳ không men nướng tro mà Whittnish để lại, thêm một mẩu phô mai cứng và một quả táo héo nhăn nheo.

[In the larder off the kitchen, tins of bully beef and peas and pears sat on shelves beside sardines and sugar and a big jar of humbugs, of which the late Mrs Docherty had been legendarily fond. For his first night’s supper he cut a hunk of the damper Whittnish had left behind, a piece of cheddar and a wrinkled apple.]

 Dòng nước cuốn vào đảo đủ thể loại hầm bà lằng: hàng hóa tạp nham dạt trôi vòng vèo như mắc vào chân vịt; mấy mảnh tàu vỡ, những chiếc rương trà, đám xương cá voi. Tất cả thủng thẳng dạt lên đảo, mỗi món một kiểu dạt trôi. Trạm đèn đứng sừng sững ngay giữa đảo. Nhà ở của người gác đèn và đám nhà phụ nép vào trạm đèn, né gió quật đã mấy chục năm.

[The currents hauled in all manner of things: flotsam and jetsam swirled as if between twin propellers; bits of wreckage, tea chests, whalebones. Things turned up in their own time, in their own way. The light station sat solidly in the middle of the islands, the keeper’s cottage and outbuildings hunkered down beside the lighthouse, cowed from decades of lashing winds.]

Gió vẫn gào thét thê lương. Ánh nắng chiều tà vẫn chiếu qua cửa sổ, phủ một lớp chăn vàng rực lên người đàn bà và hài nhi. Chiếc đồng hồ cũ trên tường bếp vẫn tích tắc từng phút giây, đúng giờ đến khó chịu. Một sinh linh vừa đến đây, và đã ra đi nhưng tạo hóa vẫn không ngừng lại một giây. Cỗ máy thời gian và không gian quay mãi, nghiến nát từng dòng người đời như lúa trong cối xay.

[The wind had kept up its sullen howl. The late-afternoon sun continued to shine in through the windown, laying a blanket of bright gold over the woman and her almost-baby. The old clock on the kitchen wall still clicked its minutes with fussy punctuality. A life had come and gone and nature had not paused a second for it. The machine of time and space grinds on, and people are fed through it like grist through the mill.]

…Một con dê vừa gặm đứt chuồng tạm rồi bỏ đi đâu mất, Lucy nài nỉ để được đi tìm với anh.

Dưới chỗ vịnh cũng không có. Chắc hẳn nó không thể đi xa được. “Mình đi tìm chỗ khác đi,” Tom nói. Anh bước ra phần đất phẳng một lần nữa, đi đủ một vòng. “Đi đâu bây giờ hả Lulu? Con chọn đi.”
“Dưới kia!” Con bé chỉ một lần nữa, về phía bên kia hòn đảo, rồi hai cha con lại tiếp tục đi.

“Từ nào có vần “ê” như “con dê” hả Lulu?”

“Búp bê!”

“Đúng rồi. Còn từ nào khác nữa?”

Con bé cố lần nữa. “Búp bê?”

Tom bật cười. “Mùa thu có trái gì hả Lulu?”

“Trái táo”

“Đúng rồi, nhưng trái gì gần với trái táo mà cùng vần với con dê nhỉ? Bắt đầu bằng âm “lờ”.”

“Trái lê!”…

   [….One of the goat had chewed its way out of a temporary pen, and Lucy had insisted on helping to find it.

            There was no sign of the creature in the cove. Well, it couldn’t have got far. ‘We’ll look somewhere else,’ said Tom. He strode up towards the flat of the land once more, and turned in a circle. ‘Where to now, Lulu? You pick.’

            ‘Down there!’ she pointed again, to the other side of the island, and they set off.

            ‘How many words do you know that sound like goat?’

            ‘Boat!’

            ‘That’s right. Any more?’

            The child tried again. ‘Boat?’

            Tom laughed. ‘What do you wear when it’s cold?’

            ‘My jumper.’

            ‘Yes, but what do you wear when it’s cold that sounds like goat? Starts with a “kuh” sound.’

            ‘Coat!’…]