Evil Extracts

nghiep-acĐáp lại tấm thịnh tình của hắn là một màn nước mắt nữa, nhưng sau một hồi chặm chiếc khăn ướt nhẹp, bà run rẩy nói, “Anh thật là tử tế,” Bà nhấp rượu, khẽ rùng mình thở hắt ra, chớp mắt nhìn hắn, hàng lông mi màu hồng như mi mắt heo con.

[His reward was a recrudescence of tears, but after much more dabbing with the sodden handkerchief she said shakily, ‘You’re very kind’, sipped it, gave a little gasping sign and blinked at him, her fair-lashed eyes pink like a piglet’s.]

“Nhà đó được sửa lại, cho sinh viên thuê. Một đám dài lưng tốn vải,” Wardle nói. “Bật nhạc ầm ĩ, giờ nào cũng có bạn bè ra vào, cả đám hoảng loạn như cừu khi tụi tôi hỏi có nghe gì từ tầng trên không. Con bé gọi điện cho bà chủ nhà lên cơn kích động toàn tập. Nói là sẽ không bao giờ tha thứ cho mình vì đã không gọi ngay hôm đầu tiên ngửi thấy mùi hôi.”

    “Làm như gọi lúc đó thì xong hết,” Strike nói. “Làm như gọi phát là gắn được đầu trở lại không bằng.”

    Wardle bật cười.

[‘It’s a converted house full of students. Less than bloody useless,’ said Wardle. ‘Loud music, mates coming and going all hours, they gaped like sheep when we asked them they’d heard anything from upstairs. The girl who’d rung the landlady had total hysterics. She said she’d never forgive herself for not phoning up when she first smelled something bad.’

‘Yeah, that would’ve changed everything,’ said Strike. ‘You could’ve stuck her head back on and she’d have been fine.’

Wardle laughed.]

….Chiếc xe buýt gầm gào lăn bánh rời đi, y sải bước theo hướng ngược lại, vừa đi vừa tự an ủi mình.

Y đã sẵn một kế hoạch tuyệt vời. Không ai hay biết. Không ai nghi ngờ. Và còn có một món vô cùng đặc biệt đang đợi y trong tủ lạnh ở nhà.

[…The bus rumbled off and he strode away in the opposite direction, soothing himself as he walked.

He had a wonderful plan. Nobody knew. Nobody suspected. And he had something very special waiting for him in the fridge at home.]

Khi nói câu đó, hắn cũng nhận ra cái chân là chân phải, giống như phần chi bị mất của hắn, và vết cắt ở ngay dưới đầu gối, đúng chỗ hắn bị cưa chân. Điện thoại vẫn kẹp vào tai, Strike cúi thật gần xuống cái chân, một mùi khó chịu như thịt gà vừa mới rã đông xộc vào mũi hắn. Chân người da trắng: mịn màng, nước da tái xanh, gần như không tỳ vết, chỉ trừ một vết bầm cũ ngả xanh trên ống chân, lông chân cạo không đều. Đám lông ngắn màu sáng, móng chân không sơn, trông hơi bân bẩn. Chỗ xương chày bị chặt sáng trắng lạnh toát, tương phản với màu lớp thịt bao quanh. Một nhát cắt sạch sẽ: Strike nghĩ hẳn là chặt bằng rìu hay dao phay.

[Even as he said it, he realised that this was a right leg, like his own lost limb, and that it had been cut below the knee, which was exactly where he had been amputated. His mobile still clamped to his ear, Strike peered more closely at the limb, his nostrils filling with an unpleasant smell like recently defrosted chicken. Caucasian skin: smooth, plae and unblemished but for an old greenish bruise on the calf, imperfectly shaven. The stubbly hairs were fair and the unpainted toenails a little grubby. The severed tibia shone icy white against the surrounding flesh. A clean cut: Strike thought it likely to have been made by an axe or a cleaver.]

“Làm sao mày biết hắn làm ma cô?”

“Tao quen thằng này, từng gặp hắn đi với rau,” Shanker nói. Strike vốn quen với tiếng lóng London, hiểu ngay. “Nó nói Whittaker ở với nhỏ đó. Nhỏ lắm. Thiếu điều ấu dâm.”

“À ra vậy” Strike đáp.

[‘How d’you know he’s pimping?’

‘I know this uvver geezer who met ‘im with the brass,’ said Shanker. Strike was familiar with the cockney slang; brass nail- ‘tail’. ‘Says Whittaker lives with ‘er. Very young. Just legal.’

‘Right,” said Strike.]

Hôm nay, y không cần phải chải chuốt bảnh bao gì; y không bao giờ tán tỉnh đàn bà nếu chúng đang đau khổ. Đó là lúc y trở thành người bạn tốt, vào vai cha chú. Đàn ông đâu phải ai cũng vậy. Cô đáng được đối xử tốt hơn. Để tôi đưa cô về. Thôi nào, để tôi cho cô đi quá giang. Nếu chúng quên đi ta có cái của nợ ấy, ta muốn làm gì chúng mà chẳng được.

[He didn’t need to look like Pretty Boy today; he never approached them sexually if they were upset. That was when he became the friend in need, the avuncular stranger. Not all men are like that, darling. You deserve better. Let me walk you home. Come on, I’ll give you a lift. You could do almost anything with them if you made them forget you had a dick.]

Khi Wardle đã dập máy, Strike cố xoa dịu Mọc Sừng. Trong khi chờ đợi cú điện thoại chấm dứt, ông ta đã kịp nuôi một cơn giận dữ yếu ớt. Strike không dám hỏi vậy ra chính xác là ông ta nghĩ hắn có thể làm được gì để cứu vãn vụ bồ đá, hắn đâu có ngu mà bẻ cần câu cơm của mình. Nốc thứ cà phê đen như hắc ín trong cơn đau đầu đang dâng cao, cảm xúc chủ đạo của Strike lúc này là thứ ước muốn mãnh liệt, rằng hắn có thể đường hoàng mà nói Mọc Sừng phắng đi cho rồi.

“Vậy thì,” ông khách hàng lên tiếng, “anh định sẽ làm gì?”

[When Wardle had hung up, Strike attempted to placate Two-Times, who had worked himself up into a state of weak anger while forced to wait for the phone call to end. Precisely what he thought Strike could do about the fact that his girlfriend had chucked him was a question that the detective, who could not afford to jettison possible repeat business, did not ask. Swigging tar-black coffee while the pain built in his head, Strike’s dominant emotion was a fervent wish that he was in a position to tell Two-Times to fuck off.

‘So what,’ asked his client, ‘are you going to do about it?’]

 

Một mình với đám chiến tích, y thấy mình thật toàn vẹn. Chúng là bằng chứng cho sự siêu việt của y, cho cái khả năng kinh ngạc đã giúp y lèo lái qua đám cảnh sát khỉ đột và đám đông như cừu để lấy những gì y muốn, như thể y là một vị á thần.

Đương nhiên đám chiến tích còn có một tác dụng khác

[Alone with his trophies, he felt himself entire whole. They were proof of his superiority, his astonishing ability to glide through the ape-like police and the sheep-like masses, taking whatever he wanted, like a demigod.

Of course, they gave him something else too.]

 

…một chuỗi phản ứng đột ngột nảy đến trong bộ não Strike, thắp sáng đường băng cho một giả thuyết đáp xuống. Giả thuyết ấy, hắn biết, chắc chắn như nhà tiên tri, sẽ dẫn hắn đến với hung thủ. Như cốt thép của một tòa nhà bắt đầu lộ ra trong trận hỏa hoạn, trong chớp nháy Strike nhận ra bộ xương âm mưu của hung thủ, thấy được những lỗi lầm cơ bản mà hắn đã bỏ qua…mà mọi người đều đã bỏ qua…

[– and cause a sudden explosive chain reaction in Strike’s brain, lighting a landing strip for a theory that he knew, with the certainty of a prophet, would lead to the killer. As the steel joists of a building are revealed as it burns, so Strike saw in this flash of inspiration the skeleton of the killer’s plan, recognising those crucial flaws that he had missed – that everyone had missed-]

 

Shanker bật radio. Strike thực lòng chỉ muốn ngủ trở lại, nhưng hắn không ý kiến gì, chỉ quay kính xe xuống, phả khói thuốc ra ngoài. Trong ánh nắng càng lúc càng rực rỡ hắn nhận thấy bộ com-lê Ý đã tròng đại lên người lấm tấm nước xốt thịt và rượu vang đỏ. Hắn cố chùi sạch những vết bẩn đã khô cứng đầu nhất, rồi sực nhớ ra một chuyện khác.

“Chết thật.”
“Chuyện gì hở?”

“Tao quên, chưa kịp cắt đứt với ghệ.”

Shanker cười phá ra. Strike mỉm cười rầu rĩ, mặt mày đau đớn. Cả gương mặt hắn nhức nhối.

“Giờ mình cố chặn đám cưới lại sao Bunsen?”

[Shanker turned on the radio. Strike, who would have preferred to go back to sleep, did not complain, but wound down the window and smoked out of it. In the steadily brightening sunshine he realised that the Italian suit he had pulled on automatically was flecked with small amounts of gravy and red wine. He rubbed off the worst of the dried-on stains, until reminded suddenly of something else.

‘Oh, fuck.’

‘Whassamatter?’

‘I forgot to ditch someone.’

Shanker began to laugh. Strike smiled ruefully, which was painful. His whole face ached.

‘Are we tryina stop this wedding, Bunsen?’]

 

Cả hai châm thuốc, đứng phì phèo cạnh nhau trong vài phút. Dân đi làm qua lại trên phố, vẻ mệt mỏi sau nhiều giờ ở văn phòng. Đêm đang xuống. Ngay trên đầu họ, giữa màu chàm của màn đêm đang tràn đến và sắc đỏ rực như san hô của mặt trời đang lặn là một dải bầu trời hẹp không màu, chỉ có không khí trống rỗng nhạt nhẽo.

[They lit up and smoked side by side for a couple of minutes. Workers walked past in both directions, weary from late hours at the office. Evening was drawing in. Directly above them, between the indigo of approaching night and the neon coral of the setting sun, was a narrow stretch of no-coloured sky, of vapid and empty air.]