Cuckoo Extracts

cuckoo-viet

“Chú em gọi tui là Marlene được rồi.”

Bà ta nhìn hắn  từ đầu tới chân, ra vẻ sành sỏi, chậm rãi mỉm cười. Marlene mặc áo sát nách màu hồng bằng vải thun Lycra, khoác ngoài một chiếc áo thun dày liền mũ màu xám có khóa kéo, bên dưới mặc quần tất ôm sát hơi ngắn, để lộ một khúc cổ chân trắng nhợt. Đôi dép xỏ ngón bà mang trông dơ dơ nhưng các ngón tay đeo đầy nhẫn vàng. Tóc cũng nhuộm vàng, lộ vài phân chân tóc màu nâu đã ngả bạc, được cột túm lại phía sau bằng một cái cột tóc vải lùm xùm như khăn tắm đã ngả màu cháo lòng.

   [ “Call me Marlene, love.”

She looked him up and down, with a slack smile and a knowing gaze. She was wearing a pink Lycra vest top under a zip-up grey hoodie, and leggings that ended inches above her bare grey-white ankles. There were grubby flip-flops on her feet and many gold rings on her fingers; her yellow hair, with its inches of greying brown root, was pulled back into a dirty towelling scrunchie.]

       Bestigui đã hút điếu cigar đến mẩu chót. Ông ta chậm rãi dụi đầu thuốc vào chiếc gạt tàng thủy tinh màu đen. Những giây tiếp theo dài dằng dặc, âm thanh ở văn phòng bên ngoài vọng vào qua cửa kính, tiếng người nói lao xao, rồi tiếng điện thoại đổ chuông.

[Bestigui had smoked his cigarillo down to its last few millimetres. Slowly he ground it out in the black glass ashtray. Long seconds passed, and the noise in the outside office filtered through the glass wall beside them: voices, the ringing of a telephone.]

   Chỉ vài giờ trước đó, Strike tự dưng “trúng số độc đắc” một cách ngoạn mục, sau một chuỗi những chuyện xui xẻo liên tục trong thời gian qua.  Mấy tháng rồi hắn mới thấy vui vẻ như vậy. Hắn rất trông đến văn phòng để gặp cô thư ký. Strike hoàn toàn không có ý định chiêu đãi Robin bằng chuyện đêm qua hắn làm gì (đặc biệt là vụ “trúng số”, khiến hắn phục hồi lại chút tự ái đàn ông tưởng đã te tua). Hắn vốn kín tiếng trong những chuyện như vậy…

  [Strike, whose run of appalling luck had been broken in fabulous style just a few hours previously, and who was feeling as close to buoyant as he had been for many months, had been looking forward to seeing his secretary. He had no intentions of regaling her with an account of his night’s activities (or at least, not those that had done so much to restore his battered ego), for he was instinctively close-lipped about such matters…]

Hắn chốt cửa lại rồi nhìn vào tấm gương nứt lốm đốm trên bồn rửa mặt.

Khuôn mặt trong gương chẳng có gì đẹp đẽ. Trán cao, dồ ra, mũi to bành và chân mày rậm, hơi giống như Beethoven thời trẻ – giả hoặc Beethoven có mê thêm món đấm bốc, lại thêm một bên mắt bầm tím sưng vù. Mái tóc xoăn dày, nhún nhẩy như lò xo từng khiến Strike được đặt cho nhiều biệt danh lúc còn trẻ, trong đó có “Tổ chim”. Trông hắn già hơn cái tuổi ba mươi lăm.

[Here he bolted the door, and stared into the cracked, spotted mirror over the sink.

The reflection staring back at him was not handsome. Strike had the high, bulging forehead, broad nose and thick brows of a young Beethoven who had taken to boxing, an impression only heightened by the swelling and blackening eye. His thick curly hair, springy as carpet, had ensured that his many youthful nicknames had included “Pubehead”. He looked older than his thirty-five years.]

          Bestigui đứng dậy, kéo tấm rèm vải bạt xuống, che hết bức tường kính ngăn cách với bên ngoài, khuất mắt đám con gái tò mò hồi hộp. Ông ta ngồi xuống, ngón tay chuối mắn chậm rãi sờ soạng lên chiếc cằm sần sùi, nhìn Strike rồi nhìn ra ngoài, dán mắt vào tấm bạt màu kem trống trơn vừa được kéo xuống. Strike dường như thấy rõ ông ta đang cân nhắc từng lựa chọn, như đang lựa các lá bài, tính kế chơi tiếp.

[Bestigui stood up and lowered Roman blinds of canvas down over the glass partition, so that none of the nervy girls in the office beyond could see in. He sat back down and ran thick fingers thoughtfully over the crumpled terrain of his lowered face, glancing at Strike and away again, towards the blank cream canvas he had created. Strike could almost see options occurring to the producer, as though he was riffling a deck of cards.]

  Những hình ảnh lộn xộn của tối qua hiện về trong tâm trí hắn: đổ bừa đồ đạc trong ba ngăn kéo vào cái túi thể thao trong tiếng la hét của Charlotte; gạt tàn thuốc bay ngay vào chân mày khi hắn ra đến cửa và quay lại nhìn cô nàng lần cuối; đi bộ xuyên qua thành phố trong đêm đến văn phòng rồi ngồi luôn trên ghế ngủ được một hai tiếng gì đó. Sau đó là hồi kết kinh hoàng khi Charlotte tìm ra hắn lúc tờ mờ sáng, để bồi thêm mấy nhát mà cô nàng chưa kịp làm trước khi hắn bỏ đi. Hắn đã quyết không níu kéo gì nữa sau khi Charlotte trổ vuốt vào mặt hắn và chạy ra phía cửa, nhưng rồi không hiểu điên khùng thế nào hắn lại chạy theo….

 [Disparate images of the previous night flickered through his mind: emptying three drawers of possession into a kitbag while Charlotte screamed at him; the ashtray catching him on the brow-bone as he looked back at her from the door; the journey on foot across the dark city to his office, where he had slept for an hour or two in his desk chair. Then the final, filthy scene, after Charlotte had tracked him down in the early hours, to plunge in those last few banderillas she had failed to implant before he had left her flat; his resolution to let her go when, after clawing his face, she had run out of the door, and then that moment of madness when he had plunged after her …]

Somé không còn chút gì mỉa mai đểu giả nữa. Ông ta hắng giọng, rồi nói tiếp.

“Nó luôn cố kết nối với những thứ có thật; hai đứa tụi tôi rất hay nói về chuyện đó. Tụi tôi thực sự đồng cảm với nhau. Cuckoo qua lại với con khốn Rochelle cũng từ chỗ đó. Kiểu ‘trông người mà ngẫm tới ta’. Cuckoo nghĩ nếu nó không xinh đẹp, nếu nhà Bristow không xin nó về làm đồ chơi cho Yvette thì có khi đời nó cũng như Rochelle mà thôi.”

   [Somé’s voice has lost all its slyness and sarcasm. He cleared his throat and went on:

            “She was trying to connect with something real; we used to talk about it all the time. It was our big thing. That’s what made her get involved with bloody Rochelle. It was a case of “there but for the grace of God!” Cuckoo thought that’s what she’d have been, if she hadn’t been beautiful; if the Bristows hadn’t taken her in as a little plaything for Yvette.”]

Vẻ đẹp thanh xuân của phu nhân Bristow đã hoàn toàn biến mất. Dưới làn da mỏng manh, trong suốt,và đã bắt đầu bong vảy, những đốt xương lộ rõ, gầy guộc và góc cạnh. Đôi mắt của phu nhân trũng sâu, mờ đục. Mái tóc bạc trắng lơ thơ như tóc trẻ con, lộ cả lớp da đầu hồng nhạt. Hai cánh tay xương xẩu đặt hờ trên lớp chăn, trên tay gắn kim truyền dịch. Cái chết đã hiện diện trong căn phòng, chừng như đang lịch sự và kiên nhẫn đứng chờ ngay sau lớp màn cửa.

Mùi hoa chanh thoang thoảng trong không khí, nhưng vẫn không át được mùi thuốc sát trùng và…

           [No trace of Lady Bristow’s youthful prettiness remained. The raw bones of the skeleton were clearly delineated now, beneath fine skin that was shiny and flaking. Her eyes were sunken, filmy and dim, and her wispy hair, fine as a baby’s, was grey against large expanses of pink scalp. Her emaciated arms lay limp on top of the covers, a catheter protruded. Her death was an almost palpable presence in the room, as though it stood waiting patiently, politely, behind the curtains.

            A faint small of lime blossom pervaded the atmosphere, but did not entirely eclipse that of disinfectant and….]

Ba ngày sau, đám tang của Rochelle được cử hành ở nhà hỏa táng ở phía Bắc London, một nơi lạnh lẽo, không tên tuổi và nhuốm màu phiền muộn. Mọi thứ đều trung dung, trôi tuồn tuột qua mắt, từ những dãy ghế gỗ sẫm màu và những bức tường trống trơn, không hề có một dấu hiệu tôn giáo nào cả; đến tấm tranh kính màu trừu tượng ghép từ những hình vuông nhỏ xíu như hạt cườm trên cửa sổ. Strike ngồi trên băng ghế cứng. Người chủ lễ giọng eo éo liên tục đọc nhầm tên Rochelle là “Roselle”. Mưa bụi rơi lấm tấm đầy khung cửa sổ lòe loẹt ngay trên đầu hắn. Giờ đây hắn mới thấy hết tác dụng của những bức tượng tiểu thiên sứ mạ vàng, các thể loại thần thánh tạc bằng thạch cao, những máng xối hình thù kỳ dị, những thiên thần trong Kinh Cựu Ước rồi những cây thập giá vàng đính đá quý. Tất cả những thứ đó tạo ra không khí uy nghiêm hoành tráng, như lời hứa hẹn chắc chắn về nước Chúa, cũng như làm cho người đi đưa đám phải nghĩ đến phẩm giá của người đã khuất…

[The north London crematorium where Rochelle’s funeral was held three days later was chilly, anonymous and depressing. Everything was smoothly nondenominational; from the dark-wood pews and blank walls, carefully devoid of any religious device; to the abstract-stained glass window, a mosaic of little jewel –bright squares. Sitting on hard word, while a whiny-voiced minister called Rochelle “Roselle” and the fine rain speckled the gaudy patchwork window above him, Strike understood the appeal of gilded cherubs and plaster saints, of gargoyles and Old Testament angels, of gem-set golden crucifixes; anything that might give an aura of majesty and grandeur, a firm promise of an afterlife, or retrospective worth to a life like Rochelle’s…]