Bone Extracts

bc-cover-3

Giọng Immaculée Constantin êm đềm như tiếng mưa trong đêm.

Sự yên lặng trong nhà nguyện trường King’s dường như có cả một thứ nội tâm.

“Thế cô nghĩ sao?” cuối cùng tôi lên tiếng. “Cuộc sống đi kèm điều khoản chết chóc. Ai rồi cũng phải chết. Nhưng trước mắt, phụ người vẫn còn hơn để người phụ ta chứ.”

“Có sinh có diệt. Khế ước của cuộc đời, phải vậy không? Tuy nhiên, ta ở đây để nói với ngươi rằng, trong những hoàn cảnh hi hữu, điều khoản sắt đá ấy có thể được…viết lại.”

Tôi nhìn gương mặt bình thản và nghiêm nghị của nàng. “Ta đang nói chuyện điên rồ cỡ nào đây? Chế độ tập luyện? Ăn chay trường? Ghép tạng?”

“Một loại quyền lực cho phép người ta trì hoãn cái chết vĩnh viễn.”

Được rồi, mười điểm thật đấy, nhưng nếu nàng mê món Khoa Luận giáo nọ kia hay trò đóng băng xác chết, thì cô Constantin cần hiểu rằng tôi không phải là đứa ngờ nghệch.

[Immaculée Constantin’s voice lulls like rain at night.

The silence in King’s College Chapel has a mind all of its own.

‘What do you expect?’ I say eventually. ‘Life has this mortality clause written into it. End of. But in the meantime, doing unto others is a damn sight more attractive than being done to by others.’

 ‘What is born must one day die. So says the contract of your life, yes? I am here to tell you, however, that in rare instances this iron clause may be … rewritten.’

            I look at her calm and serious face. “What level of nuts are we talking here? Fitness regimes? Vegan diets? Organ transplants?’

            ‘A form of power that allows one to defer death in perpetuity.’

            Yes, she’s a ten, but if she’s Scientologically –slash- cryogenically- oriented, Ms Constantin knows I don’t eat bullshit.]  

“Sống trong nhà này thì phải theo nội quy của tui. Khi tui bằng tuổi cô…”

“Biết rồi khổ lắm nói mãi, má có hai chục em trai, ba chục em gái, bốn chục ông bà nội ngoại, phải cuốc năm chục mẫu ruộng khoai vì ở Ái-Nhĩ-Lan cực lắm chẳng chơi! Nhưng đây là Anh quốc, má à, Anh quốc, má biết chưa! Bây giờ là năm tám mấy rồi. Nếu cái hóc bà tó Tây Cork đó sướng vậy thì mắc gì má phải mò tới…”

Chách! Một cái tát ngay bên má trái mình.

Hai người nhìn nhau: mình run rẩy vì sốc, má giận sôi – trước giờ mình chưa từng thấy má giận như vậy, rồi mình nhận ra….

[‘Live under our roof, you obey our rules. When I was your age – ’

‘Yeah yeah yeah, you had twenty brothers and thirty sisters and forty grandparents and fifty acres of spuds to dig ‘cause that was how life was in Auld feckin’ Oireland but this is England, Mam, England! And it’s the 1980s and if life was so feckin’ glorious in that West Cork bog why did you feckin’ bother even coming to…’

            Whack! Smack over the left side of my face.

            We look at each other: me trembling with shock, and Mam, angrier than I’ve ever seen her, and – I reckon …]

Bây giờ đã là sáu giờ sáng ở Baghdad. Sao đêm sẽ tắt dần trong buổi bình minh khô khốc và lạnh cóng, lũ chó gầy giơ xương sục soạng giữa đống đổ nát tìm thức ăn, loa Tannoy của nhà thờ Hồi giáo nhắc tín đồ đến giờ cầu nguyện và những đống lù lù bên đường sẽ được tính vào tổng số thương vong đêm qua.

[It’s six o’clock in the morning in Baghdad now. The stars will be fading in the cold blue dawn, as skin-and-bone dogs pick through rubble for something to eat, the mosques’ Tannoys summon the devout and bundles by the side of the road solidify into last night’s crop of dead bodies.]

Tôi ngắm ngón tay nàng, mái tóc đen mời gọi, cách gương mặt nàng che dấu hay thể hiện nội tâm. Đây đâu còn là dục vọng nữa. Dục vọng chỉ thèm muốn, hành sự rồi ngoắc đuôi trở về rừng. Tình yêu tham lam hơn thế. Tình yêu muốn luôn được chăm sóc; muốn bảo vệ; nào nhẫn, nào hẹn ước, nào tài khoản chung; nến thơm nhân dịp sinh nhật; bảo hiểm sinh mạng. Con trẻ. Tình yêu là một kẻ độc tài. Tôi biết thế, nhưng lò lửa lòng tôi đang cháy phừng phựt, gào thét Em em em em em em em, mà tôi …

[I watch her fingers, her loopable black hair, how her face hides and shows her inner weather. This isn’t lust. Lust wants, does the obvious, and pack back into the forest. Love is greedier. Love wants round-the-clock care; protection; rings, vows, joint accounts; scented candles on birthdays; life insurance. Babies. Love’s a dictator. I know this, yet the blast furnace in my rib-cage roars You You You You You You just the same, and there’s …]

Con ong có vẻ thích chỗ đậu mới, ngay cả khi bà lão khẽ động đậy, kéo dây câu lên. Mình đứng qua một bên. Bà kiểm tra lưỡi câu, xem còn mồi không. Nước nhỏ long tong, bắn lên trên những tấm ván cầu tàu khô khốc. Dòng sông xì xạt, sóng liếm vào bờ, nước vỗ óc ách quanh những cây trụ gỗ. Bà lão vẫn ngồi đó, cổ tay hất một cú thiện nghệ, vứt chì câu lượn mấy vòng xuống nước, dây câu phừng phừng như dây đàn tranh, rồi chì câu đậu lên mặt nước, đúng ngay chỗ cũ. Nước tỏa vòng, tỏa vòng. Yên tĩnh tuyệt đối…

Rồi bà lão làm một việc vô cùng kỳ khôi…

[The bee’s happy where it is, even when the woman stirs herself to reel in the line. I stand off to one side as she checks the bait’s still secure on the hook. Drips of water splash the thirsty planks of the jetty. The river slurps at the shore and splishes round the wooden pillar things. Still seated, and with an expert flick of the wrist, the old man sends the lead weight loopy-looping away, the reel makes its zithery noise, and the weight lands in the water where it was before. Circles float outwards. Dead calm…

            Then she does something really weird…]

Tôi không có gì mang theo khi đến căn nhà của gia đình Koskov, trừ chiếc áo dài thô, đôi guốc gỗ và một chiếc áo khoác da cừu bẩn thỉu. Tối hôm đó Vassilissa cho tôi được tắm bồn nước nóng, lần đầu tiên kể từ khi tôi chết ở Nhật, rồi cho tôi một áo dài sạch và một tấm chăn len.

[I had no good to bring with me to the Koskovs’ cottage but a sackcloth dress, clogs and a filthy sheepskin coat. That night Vassilissa gave me the first hot bath I’d enjoyed since my death in Japan, a clean frock and a woollen blanket.]

“Giường chiếu ở đây rất tối thiểu,” Brubeck nói khi tụi mình xuống xe, “nhưng có Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần lo phần an ninh, với mức giá zero bảng một đêm thì chỗ này rất cạnh tranh.”

Ý hắn là nhà thờ sao? “Bồ đang giỡn, đúng không?”

“Trả phòng đúng y bảy giờ sáng, không thì ban quản lý sẽ rất bực.”

Đúng vậy, ý hắn là nhà thờ. Mình làm mặt không chắc à.

Brubeck làm mặt Rồi sao, đi hay ở.

            Mình phải ở lại thôi. Khu đầm lầy ở Kent đâu có mấy cái chuồng bò ấm cúng, đầy rơm khô như trong phim Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên.

[‘The bedding’s basic,’ says Brubeck, as we get off the bike, ‘but the Father, the Son and the Holy Spirit handle security, and at zero quid a night, it’s priced competitively.’

            Does he mean the church? ‘You’re joking, right?’

            ‘Check-out’s seven sharp or the management get shirty.’

            Yes, he means the church. I make a dubious face.

            Brubeck makes a face that says. Take it or leave it.

            I’ll have to take it. The Kent marshes are not dotted with cosy barns full of warm straw, like in The Little House on the Prairie. ]

Aoife nhăn nhó mặt mày như tiểu yêu, rồi – tôi vừa ngạc nhiên vừa thấy tổn thương – thả quả bóng ra. Quả bóng bay lên, màu bạc trên nền trời xanh, Aoife khóc lóc càng lúc càng căng. “Con ghét ba – con ghét Dora nhà thám hiểm nhí – Con ước gì ba đi về đi – về lại Ba-nát đi – ở luôn đó đừng về đây nữa! Con ghét ba ghét ba ghét ba ghét ba lắm luôn!”

Rồi cặp mắt con bé nhắm nghiềm, buồng phổi sáu tuổi căng đầy.

Một nửa dân số Sussex nghe rõ tiếng khóc lóc inh tai, vùng vẫy đó.

Cho tôi ra khỏi đây. Đến bất kỳ nơi nào.

Nơi nào cũng được. 

[Aoife twists her face up into a goblin’s and- to my surprise, and hurt, lets the balloon go. Off it flies, silver against blue, while Aoife dissolves into cascading sobs. ‘I hate you – I hate Dora the Explorer – I wish you were back – back in Bad Dad – for ever and ever! I hate you I hate you I hate I hate your guts!’

Then Aoife’s eyes shut tight and her six-year-old lungs fill up.

Half of Sussex hears her shaken, sobbing scream.

Get me out of here. Anywhere.

Anywhere’s fine.]

…Với nhà văn thời kỹ thuật số, viết đồng nghĩa với viết lại. Ta mò mẫm, cắt, lọc, dán và đổi qua lại, đãi vàng trên màn hình bằng cách xóa đi hàng đống rác rưởi. Đồng nghiệp thời xa xưa của ta phải trau chuốt từng câu chữ trong đầu trước khi gõ lên phím. Viết lại với họ sẽ mất hàng tháng, nhiều mét ruy-băng và hàng lít mực bút xóa. Thật tội nghiệp.

Mặt khác, nếu kỹ thuật số là bà đỡ mát tay hơn của tiểu thuyết, thì các kiệt tác thế kỷ này ở đâu?

[…For most digital-age writers, writing is rewriting. We grope, cut, block, paste and twitch, panning for gold onscreen by deleting bucket-loads of crap. Our analogue ancestors had to polish every line mentally before hammering it out mechanically. Rewrites cost them months, metres of ink-ribbon and pints of Tippex. Poor sods.

            On the other hand, if digital technology is so superior a midwife of a the novel, where are this century’s masterpieces?]

Tên của Moombaki đã lớn lên cùng với hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn năm kể từ khi Moombaki được sinh ra ở gò Năm Ngón Tay, thời mà nó còn là Hai Bàn Tay. Mặc dù phần lớn tên thật của chị nằm ngoài vốn ngôn ngữ Noongar của tôi, khi những phút đó trôi qua, tôi hiểu rằng tên của chị cũng chính là lịch sử dân tộc chị, một Tấm Thảm Bayeux đan kết huyền thoại với tình yêu, sự sống, cái chết; những cuộc săn, những trận chiến, những chuyến hành trình; hạn hán, cháy rừng, bão tố; và tên của mỗi lưu thể mà Moombaki từng lưu trú. Với Esther, tên của chị chấm dứt. Người khách xuất linh và tôi mở mắt ra, thấy nắng xiên ngang thiêu đốt vòm lá xanh ngắt bên dưới, chiếu rực bụi cây trong ánh vàng sậm và làm ửng đỏ những đám mây như bộ sườn cá voi, và quanh tôi là hàng ngàn chim chóc, líu lo, hú hét, rền rĩ. “Không phải là một cái tên tệ,” tôi đáp, chưa gì đã cảm thấy nhung nhớ xa rời.

[Moombaki’s name had grown with the tens, hundreds and thousands of years since Moombaki’s mother-birth at the Five Fingers, back when it was known as Two Hands. While much of her true name lay beyond my knowledge of the Noongar language, as the minutes passed I understood that her name was also a history of her people, a sort of Bayeux Tapestry that bound myth with loves, births, deaths; hunts, battles, journeys, droughts, fires, storms; and the names of every host within whose body Moonbaki had sojourned. With the word Esther her name ended. My visitor  egressed and I opened my eyes to find slanted sunlight flaming the canopy below us sharp green, torching the scrub drak gold and reddening the whale-rib clouds, and countless thousands of birds, singing, shrieking, yammering. “Not a bad name,” I said, already feeling the ache of loss.]

 Lên phòng, tôi không ngủ được. Những bóng đen chập choạng thấp thoáng, đung đưa trên nền đêm đen tối hơn. Gió mạnh lên, mái nhà rệu rạo, biển gầm gào. Những gì Brendan nói cứ lặp đi lặp lại không nguôi, tiếng được tiếng mất trong đầu tôi: Tôi cố nghĩ đến những thứ tốt đẹp hơn, cố bình tĩnh lại, nhưng như thường lệ, đã quá muộn. Anh trai tôi, triệu phú bất động sản ngày nào, giờ đây yếu đuối, hốc hác. Tôi ghen tị với những nhà Boyce sùng đạo trên đời. Lời cầu nguyện có thể là thứ giả dược trị chứng vô vọng, nhưng giả dược có thể khiến ta cảm thấy dễ chịu hơn. Ở cuối khu vườn vang vọng tiếng sóng vừa chết đi rồi sóng mới sinh ra, cứ thế đời đời chẳng cùng, Amen.

[Up in my room, I can’t get to sleep. Shadows bloom in the corners, swaying a little against a darker darkness. The wind’s risen, the roof creaks, the sea booms. What Brendan said is on imperfectly remembered, non-stop shuffle-repeat: I think of better things to say, calming things, but as usual it’s too late. My big brother, the one-time multimillionaire property developer, looked so hollowed out and so fragile. I envy the God-intoxicated Boyces of the world. Prayer may be a false cure for the disease of helplessness, but placebos can make you feel better if you believe in them. The sound of waves dies and gives birth to the sound of waves, for ever and ever, Amen.]

Sau một ngàn hai trăm năm tôi từng nghĩ mình đã miễn nhiễm với sốc, nhưng tôi đã lầm. Thời gian chưa hề ngừng lại. Lửa lò sưởi vẫn cháy. Tôi vẫn nghe được tiếng Galina thái rau củ ngoài bếp. Theo bản năng, tôi bắt mạch nơi cổ tay Vassilissa, mạch đều và mạnh. Hơi thở của bà chậm rãi, nông nhưng đều. Dmitry cũng thế. Tôi gọi tên hai người. Họ không nghe thấy tôi. Họ như không có ở đó. Chỉ có thể có một nguyên nhân, hay đúng hơn, một cặp nguyên nhân.

[After twelve hundred years I had come to think of myself as immune to shock, but I was wrong. Time had not stopped. The fire still burnt. I could still hear Galina chopping vegetables out in the kitchen. By instinct, I searched for a pulse in Vassilissa’s wrist and found it, strong and steady. Her breathing was slow and shallow but steady. The same was true for Dmitry. I said their names. They didn’t hear me. They weren’t here. There could be only one cause, or more likely, a pair of causes.]

…Tôi đổi bốn mươi tám quả trứng lấy dầu gội đầu Trung Quốc rẻ tiền, có thể dùng để giặt quần áo; vài túi muối rong biển và mấy mớ cải xoăn đổi lấy len chưa nhuộm từ Killarney để làm cho xong tấm mền; mứt quả lý chua – hũ đựng có giá trị hơn mứt trong hũ- lấy bút chì và một thếp giấy A4 để đóng thêm vài cuốn tập, tập vở của hai đứa nhỏ bị tẩy xóa quá nhiều lần, giờ đây giấy mỏng đến nỗi nhìn xuyên qua được; và cuối cùng, chần chừ mãi, tôi đổi đôi ủng cao su cuối cùng còn nguyên hộp cất kỹ đã mười lăm năm, lấy mấy tấm bạt nhựa trong để còn may áo mưa cho ba bà cháu, và để sửa lại nhà lưới trồng rau sau đợt gió đông….

[…I turn forty-eight eggs into cheap Chinese shampoo you can also use to wash clothes; some bags of seaweed salt and bundles of kale into undyed wool from Killarney to finish a blanket; redcurrant jelly – the jars are worth more than the jelly- into pencils and a pad of A4 paper to stitch some more exercise books, as the kids’ copy books have been rubbed out so often that the pages are almost see-through; and reluctantly, a last pair of good Wellington boots I’ve had in their box for fifteen years into sheets of clear plastic, which I’ll use to make rain-capes for the three of us, and to fix the polytunnel after the winter gales…]

…Tôi nghe có tiếng meo gần đó và cúi xuống, thấy một con mèo màu xám trăng đang bước ra từ bóng đêm. Tôi cúi người chào nó, cũng là lý do duy nhất khiến tôi không bị lột sạch như trứng luộc khi vụ nổ bên ngoài thổi vào tung tóe vụn gương cửa sổ ở mặt phía tây của khách sạn Safir, lấp đầy những hàng lang tối tăm bằng những đợt khói cuộn, lấp đầy tai với tiếng gầm rú liên hồi, và lấp đầy khoảng không giữa các nguyên tử bằng thứ hợp âm không điệu thức của sự tàn phá.

[…I heard a miaow nearby and looked down to see a moon-grey cat melting out of the shadows. I bent down to say hello, the one and only reason why I wasn’t scalped like a boiled egg, when the explosion outside blew in the glass windows on the western face of the Safir Hotel, filling its unlit corridors with blast waves, filling out ear-carnals with solid roar, filling the spaces between atoms with the atonal chords of destruction.]

Tôi ngắm sao và nghĩ về những cuộc đời khác. Tôi không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua như thế cho đến khi tôi để ý thấy một con chuột lắt đang nhảy lên cánh tay Warren, lên bàn tay hắn và lần theo cái que dùng làm xiên nướng với mẩu dồi béo mỡ trên đó. Tôi không hề áp Đoạn Lệnh lên hắn. Mắt Warren còn mở nhưng người hắn không động đậy…

[I watched the stars and thought of other lives. I don’t know how much time passed before I notice a small mouse skip up Warren’s forearm, onto his hand, and up the stick that served as a toasting fork to the greasy lump of sausage impaled there. I hadn’t hiatused the man. Warren’s eyes were open but he didn’t stir…] 

Thực lòng, thưa độc giả quý mến, tôi muốn khóc. Kingsley Amis từng huênh hoang rằng một bài bình sách bất lợi có thể khiến bữa sáng của ông ta mất ngon, nhưng không thể nào phá đến bữa trưa. Kingsley Amis sống ở thời tiền-Twitter, thời đó các tay bình sách còn bỏ công đọc sách và suy nghĩ độc lập. Ngày nay chúng chỉ chăm chăm lên Google, tìm một quan điểm sẵn có, và…

[Truly, dear reader, I could weep. Kingsley Amis boasted how a bad review might spoil his breakfast but it bloody wasn’t going to spoil his lunch. Kingsley Amis lived in the pre-Twitter Age, when reviewers actually read proofs and thought independently. Nowadays they just Google for a pre-existing opinion and….] 

…Đã muộn rồi. Trên đỉnh Knocknamadere ở Mizen Head như có hai mặt trăng mờ mịt chồng lên nhau, trôi bồng bềnh. Tôi chặm mắt trên cổ tay áo len sờn cũ, hai mặt trăng nhập thành một. Sắc vàng nhạt, đầy những vết xước. Tôi run người vì lạnh. Đêm nay sẽ rất lạnh.

[…Too late now. Above Knocknamadree Mountain on Mizen Head swim a pair of blurry overlapping moons. I wipe my eyes on the cuff of my ratty old fleece and the two captive planets become one gain. Pale gold and badly scratched. I shiver. We’re in for a cold night…]

 Nhiều đêm chúng tôi vận linh cùng nhau, và linh hồn Esther ấp lấy linh hồn tôi để linh hồn tôi có thể đi xa hơn và nhanh hơn khi tôi chỉ có một mình. Khi chị phân linh tôi, tôi thấy mình như một thi sĩ hạng ba khoe những câu vè vớ vẩn với Shakespeare. Khi tôi phân linh chị, tôi thấy mình như con cá tuế đổ từ chậu cá xuống biển sâu.

[On some nights we transversed together, and Esther enfolded my soul in hers so I could spirit-walk much further and faster than I was otherwise able. When she scansioned me I felt like a third-rate poet showing his doggerel to a Shakespeare. When I scansioned her. I felt like a minnow tipped from a jar into a deep inland sea.]